Rija Praong – Ảnh: Vương Rock

Người Chăm xưa vẫn truyền kể rằng, lễ Rija Praong không phải tự nhiên mà sinh ra. Đó là nghi lễ kết tinh từ những biến cố buồn của lịch sử, từ nước mắt của con người, từ lời hứa trước thần linh, và từ nỗi day dứt kéo dài của cả một vương triều.

Thuở ấy, vào thời vua Po Romé, đất Champa còn thịnh trị, thuyền bè qua lại tấp nập trên biển. Nhà vua có bang giao với nhiều xứ sở phương xa, trong đó có người Mã Lai. Một năm nọ, vua mời một đoàn thuyền từ phương hải đảo sang thăm đất Chăm. Đoàn thuyền có bảy chiếc, vượt biển lớn mà đến.

Khi thuyền đến gần vùng Mũi Né, do hiểu lầm, Po Sah Inâ, một vị tướng trấn giữ vùng biển, tưởng là giặc biển xâm phạm bờ cõi nên ra lệnh đánh. Biển nổi sóng dữ, gió gào nước cuốn. Năm chiếc thuyền chìm xuống biển, chỉ còn hai chiếc thoát nạn.

Về sau, khi biết đó chỉ là khách phương xa chứ không phải kẻ thù, vua Po Romé đau đớn khôn nguôi. Vua truyền lệnh vớt xác những người chết trên biển, làm lễ tiễn đưa chu đáo theo nghi thức của người Chăm, rồi lại tổ chức thêm nghi lễ theo phong tục Mã Lai, để đưa hồn người mất về quê cũ, và tiễn những người sống sót trở lại xứ họ.

Rija Praong – Ảnh: Vương Rock

Về sau, khi biết đó chỉ là khách phương xa chứ không phải kẻ thù, vua Po Romé đau đớn khôn nguôi. Vua truyền lệnh vớt xác những người chết trên biển, làm lễ tiễn đưa chu đáo theo nghi thức của người Chăm, rồi lại tổ chức thêm nghi lễ theo phong tục Mã Lai, để đưa hồn người mất về quê cũ, và tiễn những người sống sót trở lại xứ họ.

Từ nỗi đau ấy, người Chăm bắt đầu lập lễ Rija Praong, để xin lỗi biển cả, xin lỗi những linh hồn oan khuất, và để giữ cho lòng người, lòng đất được yên.

Lại có một chuyện khác, được chép trong sách chữ Chăm xưa, kể rằng:

Thuở rất lâu rồi, có hai hoàng tử từ xứ Kelantan sang Champa. Một người đi đường bộ, băng rừng vượt đất Campuchia, đến Panduranga an lành. Người kia là Laksama, đô đốc thủy quân, đi bằng đường biển.

Giữa biển khơi, bão lớn nổi lên. Thuyền vỡ, người mất, xác thuyền tan nát. Trôi dạt nhiều ngày, cuối cùng đoàn thuyền mới cập được bến Panduranga. Dân làng thấy thuyền lạ thì sinh nghi, tưởng là hải tặc, liền kéo nhau bao vây.

Hoàng tử đứng trước dân làng, thân thể rã rời vì đói khát và sóng gió, nhưng vẫn cố gắng giãi bày rằng mình không phải giặc. Tin ấy được báo đến tai công chúa Panduranga, lúc ấy đang đi tuần thú. Vừa nhìn thấy hoàng tử, công chúa nhận ra ngay đó là đô đốc xứ Kelantan, liền xin vua cha cho người tiếp đãi tử tế.

Công chúa đem lòng thương mến hoàng tử, xin được kết duyên. Vua thuận ý, lại gả thêm một công chúa khác để giữ hòa khí giữa anh em. Hai hoàng tử ở lại hoàng cung, giữ chức vụ lớn, sống những ngày tưởng như đã yên ổn.

Nhưng đời người khó tròn. Vài năm sau, hai hoàng tử xin trở về quê cũ. Vua Chămpa tổ chức lễ tiễn đưa long trọng, thuyền bè ra khơi, trống kèn vang động biển trời. Thuyền đi rồi, lòng người ở lại hóa trống không.

Hai công chúa không chịu nổi cảnh chia ly, ôm con mà chết theo chồng. Không lâu sau đó, bệnh dịch lan khắp đất Champa, người chết như lá rụng.

Các thầy cả Po Adhia (Ahiér) và Po Gru (Awal) họp lại, dâng lời tâu với vua rằng: “Linh hồn các công chúa và con họ chưa yên, thì đất nước chưa thể yên.”

Nhà vua bèn làm lễ phong thần cho các công chúa, ban danh hiệu Patri – Patra – Raja Sulai-man, Rija Da-wet đưa các ngài vào tháp thờ. Vua lại truyền rằng, mỗi nhà trong vùng phải đặt một vật thờ gọi là ciét praok, để tưởng nhớ người đã khuất, để hồn vía không còn lang thang.

Nhà vua cũng định lệ: cứ bảy mươi năm một lần, dòng tộc các làng Chăm phải làm lễ Rija Praong, kéo dài bảy ngày bảy đêm, để cúng, để múa, để hát, để gọi hồn người xưa, và để nhắc người nay nhớ chuyện cũ.

Từ đó về sau, khi nhà nào gặp tai ương, người bệnh mãi không lành, trâu bò chết, làm ăn sa sút, tộc trưởng lại khấn rằng: “Nếu bề trên thương mà cho qua nạn này, con xin làm lễ Rija Praong để trả nghĩa.” Lời đã hứa thì phải giữ. Dù nghèo, dù người hứa đã mất, con cháu vẫn phải làm, bởi người Chăm tin rằng: Không trả lễ thì hồn không yên, người không yên, làng cũng không yên.

Rija Praong – Ảnh: Vương Rock

Vì thế, lễ Rija Praong không chỉ là múa hát cho vui, mà là lễ của lời hứa, của nước mắt, của sự nhớ ơn và giữ đạo làm người. Đó là cách người Chăm nói với tổ tiên và thần linh rằng: “Chúng con chưa quên.”

Người xưa còn kể rằng, đến ngày cuối của lễ Rija Praong, khi trống kèn đã vơi tiếng, làng làm nghi lễ Palao Ahaok để tiễn hai chiếc thuyền lễ trở về Mâkah.

Thuyền ấy không để đi buôn, cũng không để đánh cá, mà để đưa những hồn vía đã được mời về trong mấy ngày lễ, trả lại cho biển cả. Nghi lễ được làm vào buổi sáng, khi nước còn trong, gió còn hiền. Người ta cúng nạp ba đứa trẻ, hai trai, một gái, cùng một con gà, để mượn cái vía trong, cái hơi sống, gửi theo thuyền mà gột rửa những điều nặng nề còn vướng lại. Đó không phải hiến mạng, mà là mượn sự tinh sạch của con trẻ để cầu cho làng xóm được yên.

Lễ làm bên con sông gần làng. Sông dẫn thuyền đi, biển nhận lấy. Khi thuyền trôi khỏi bến, người làng đứng lặng, không gọi, không níu, để cái xấu, cái dữ theo nước mà trôi xa.

Chủ lễ là Po Acar, có ông Mâduen, Muk Rija, cùng người khiêng thuyền, ban nhạc trống gineng, kèn saranai và những người phụ lễ. Tiếng trống, tiếng kèn vang lên lần cuối, như lời chào, như lời tiễn.

Thuyền đi rồi, lễ cũng khép. Người sống trở về với ruộng nương, người khuất trở về với biển.

Đất được sạch, làng được yên. Ấy chính là cách người Chăm từ ngàn xưa giữ cho mình sống thuận với trời, với nước, với tổ tiên.

Nguyễn Ngọc Quỳnh


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *